TÌM HIỂU THÊM VỀ VI TAMIN B

TÌM HIỂU THÊM VỀ VI TAMIN B

TÌM HIỂU THÊM VỀ VI TAMIN B

Các  giúp duy trì sức khỏe của thần kinh, da, thị lực, tóc, gan và miệng, cũng như làm săn chắc các cơ thuộc đường tiêu hóa và liên quan đến các chức năng não bộ khác.

Các vitamin B giúp duy trì sức khỏe của thần kinh, da, thị lực, tóc, gan và miệng

Quá trình phát hiện vitamin B:

Khoảng giữa thế kỷ XVII, Jacob de Bondt (1598-1631), một thầy thuốc làm việc tại Batavia ở miền đông Ấn Độ thuộc Hà Lan đã viết cuốn sách “Y học Ấn Độ”, trong đó mô tả một căn bệnh phổ biến ở dân cư vùng này: Người ốm mất trương lực bàn tay, cánh tay, cơ chi dưới suy yếu kèm viêm dây thần kinh ngoại vi. Nhưng mãi đến năm 1642 (nghĩa là sau khi Bondt qua đời 11 năm), gia đình mới phát hiện và cho xuất bản cuốn sách.

Sau đó, nhiều thầy thuốc ở vùng Viễn Đông cũng thông báo một số trường hợp có những dấu chứng tương tự và gọi tên là beri beri, dựa theo thuật ngữ “beri” của dân cư Sri Lanka (có nghĩa là mỏi mệt, suy nhược).

Năm 1881, Erwin Von Balcz (1849-1913) xác nhận dạng bệnh suy nhược cơ chi khá phổ biến ở nhiều vùng dân cư Nhật.

Trong suốt 4 năm (1882-1885), Kanehiro Takaki (1849-1915), Tổng Giám đốc Y khoa Hải quân Nhật đã loại trừ dạng bệnh này trong thủy quân Nhật nhờ áp dụng chế độ ăn gạo cám, hoa quả tươi.

Năm 1890, Christian Eijkman (1858-1890), thầy thuốc ngoại khoa và vệ sinh học người Hà Lan, làm việc tại một trại giam ở Java, nhận xét thấy phần lớn các tù nhân đều có dấu hiệu bệnh beri beri làm suy nhược cơ, tê phù, liệt chân. Qua theo dõi một thời gian dài, ông nhận ra nguyên nhân là do tù nhân ăn loại gạo xay xát quá kỹ. Ông dùng loại gạo đó nuôi dưỡng cho cả đàn gà của trại giam và lần đầu tiên gây được bệnh beri beri thực nghiệm. Sau đó, ông quyết định cho cả tù nhân lẫn đàn gà dùng chế độ ăn gạo chứa nhiều cám thì thấy hết hẳn các dấu hiệu bệnh.

Năm 1906, nhà hóa sinh học người Anh Gowland Hopkins (1861 – 1947), đã tiến hành những thử nghiệm với các chế độ ăn khác nhau trên súc vật.

Cuối cùng sau 6 năm nghiên cứu, ông kết luận: Nhiều thể bệnh (như scorbut, beri beri…) đều do các chế độ ăn thiếu hụt một chất rất cần thiết (dù với số lượng rất nhỏ) cho sự phát triển  sinh vật.

Năm 1911, sau khi gây bệnh beri beri thực nghiệm ở chim câu, Funk đã dùng một liều lượng nhỏ 20mg chất phân lập từ bột cám và điều trị khỏi bệnh này, từ đấy mở đường cho việc tìm hiểu đầy đủ về vitamin B.

Năm 1929, giải Nobel Y học được trao tặng cho hai nhà khoa học Eijkman và Hopkins để ghi nhận công lao phát hiện vai trò của vitamin nhóm B.

Tìm hiểu về vitamin nhóm B:

Vitamin B hoạt động như là các coenzyme, giúp các enzyme (chất men) phản ứng hóa học với các chất khác, và có liên quan đến quá trình tạo năng lượng. Nhóm vitamin này còn có hữu ích trong việc làm giảm bớt chứng trầm cảm và lo âu. Bổ sung đủ vitamin nhóm B rất quan trọng đối với người có tuổi bởi vì các chất này rất khó hấp thụ khi tuổi càng cao.

Có nhiều trường hợp được chẩn đoán mắc chứng Alzheimer có nguyên nhân là do sự thiếu hụt vitamin B12 với các vitamin B khác. Các vitamin B nên luôn luôn sử dụng chung hơn là riêng lẻ  bới vì chúng hoạt động cùng với nhau. Do đó, thiếu hụt vitamin B này cho thấy các vitamin B khác cũng đang thiếu hụt.  Mặc dù các Vitamin nhóm B là một nhóm, chúng ta sẽ tìm hiểu riêng từng vitamin:

Vitamin B1 (Thiamine):

Vitamin B1 tăng cường tuần hoàn máu và hỗ trợ trong việc hình thành máu, quá trình trao đổi chất carbohydrate , và trong sản xuất hydrochloride acid (HCl), chất quan trọng trong hệ tiêu hóa bình thường.

Thiamine còn tối ưu hóa các hoạt động liên quan đến nhận thức cũng như các chức năng não bộ. Sinh tố này còn có các tác động tích cực đối với năng lượng cơ thể, sự tăng trưởng, sự ngon miệng, khả năng học hỏi, và còn cần thiết cho sự làm chắc các cơ bắp của bộ máy tiêu hóa, tim, bao tử. Thiamine còn hoạt động như là chất chống oxi hóa, bảo vệ cơ thể khỏi các dấu hiệu tuổi tác do quá trình lão hóa, uống rượu bia, và hút thuốc. Bệnh phù thũng (beriberi), bệnh liên quan đến hệ thần kinh hiếm gặp ở các nước phát triển, có nguyên nhân do thiếu hụt thiamine.

Các triệu chứng khác có thể có nguyên nhân từ thiếu thiamine bao gồm táo bón, phù, gan to, mệt mỏi, hay quên, tê bàn tay và bàn chân, đau, nhạy cảm, định hướng kém, cảm giác ngứa ran, cơ bắp đau và yếu, giảm cân nghiêm trọng. Benfotiamine  là dạng tan trong chất béo của vitamin B1.

Trong tự nhiên được tìm thấy ở tỏi, hành, tỏi tây, hẹ nghiền. Benfotiamine tích trữ trong cơ thể lâu hơn, mang lại các lợi ích điều trị mà vitamin B1 không có khả năng. Dạng này hiệu quả hơn thiamine trong việc kiểm soát các tác hại do tiểu đường gây ra, vì có khả năng kích hoạt enzyme transketolase tốt hơn Vitamin B1. Enzyme này giúp các hợp chất có nguồn gốc từ glucose ra khỏi các mạch máu khỏe mạnh và các tế bào thần kinh. Lượng bổ sung hằng ngày là 150 đến 600 mg, dưới sự hướng dẫn của bác sỹ.

Các nguồn thực phẩm giàu vitamin B1 được tìm thấy trong các thực phẩm sau: gạo nâu, lòng đỏ trứng, cá, các loại đậu, gan, thịt heo, gia cầm, cám gạo, mầm lúa mì, ngũ cốc nguyên cám…

Vitamin B2 (Riboflavin):

Vitamin B2 rất cần thiết trong quá trình hình thành hồng cầu, sản xuất kháng thể, tế bào hô hấp, và phát triển cơ thể. Nó làm giảm bớt chứng mỏi mắt và rất quan trọng trong phòng tránh và chữa trị chứng đục thủy tinh thể. Nó hỗ trợ quá trình trao đổi chất carbohydrates, chất béo, và đạm.Cùng với vitamin A, nó duy trì và cải thiện màng dính cho đường tiêu hóa. Riboflavin còn tạo điều kiện thuận lợi cho các mô của da, tóc, móng sử dụng khí oxi; loại bỏ gàu; giúp hấp thụ sắt và vitamin B6 (pyridoxine).

Tiêu thụ một lượng đủ riboflavin rất quan trọng trong quá trình mang thai, bởi vì nếu thiếu hụt vitamin này có thể gây nguy hại cho sự phát triển của thai nhi ngay cả khi thai phụ không có dấu hiệu gì về sự thiếu hụt này.

Riboflavin còn cần cho sự trao đổi chất của axit amin tryptophan—có chức năng chuyển hóa thành niacin trong cơ thể. Hội chứng Nghẽn ống cổ tay (carpal tunnel syndrome) có thể có biểu hiện tốt nếu điều trị bao gồm riboflavin và vitamin B6.

Các dấu hiệu cho thấy thiếu hụt vitamin B2 bao gồm nứt và loét ở mép miệng, rối loại thị giác, viêm ở miệng và lưỡi, tổn thương da. Một số triệu chứng khác có thể  có là viêm da, choáng, rụng tóc, mất ngủ, nhạy ánh sáng, tiêu hóa kém, chậm phát triển, phản ứng chậm.

Các nguồn thực phẩm giàu vitamin B2 được tìm thấy trong các thực phẩm sau: phô mai, lòng đỏ trứng, cá, các loại đậu, thịt, sữa, gia cầm, rau bina, ngũ cốc nguyên cám, và yogurt. Ngoài ra còn có măng tây, trái bơ, bông cải xanh, phúc bồn tử, nấm, rau mùi tây…

Riboflavin dễ bị phá hủy nếu tiếp xúc với ánh sáng, kháng sinh, tác dụng của rượu bia. Sử dụng quá nhiều riboflavin (trên 50 mg) có thể gây hại tới thủy tinh thể và điểm vàng của mắt.

Vitamin B3 (Niacin, Nicotinic Acid, Niacinamide):

Vitamin B3 cần thiết cho tuần hoàn máu và một làn da khỏe mạnh. Nó hỗ trợ các chức năng của hệ thần kinh; chuyển hóa carbohydrate, chất béo, và protein; và trong sản xuất hydrochloric acid (HCl) cho hệ tiêu hóa. Vitamin B3 có đóng vai trò trong bài tiết mật, dịch tiêu hóa và tổng hợp các hooc-môn tình dục. Niacin (Nicotinic acid) hạ cholesterol và tăng cường tuần hoàn.  Nó hữu ích cho điều trị bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia), các chứng bệnh trí óc khác, và cũng tăng cường trí nhớ. Bệnh tháo bì (nứt da, Pellagra) có nguyên nhân do thiếu niacin.

Các triệu chứng khác do thiếu niacin bao gồm: nhiệt miệng, mất trí, trầm cảm, tiêu chảy, choáng váng, mệt mỏi, mất ngủ,… Niacin và niacinamide  được tìm thấy nhiều trong gan bò, men bia, bông cải xanh, cà rốt, phô mai, trứng, cá, sữa, bột bắp, khoai tây… Các thảo dược có chưa niacin bao gồm cỏ linh lăng (alfalfa), chi Ngưu bàng (burdock root), Chi Hoa phổi (mullein), bạc hà (peppermint)… Một ly cà-phê cung cấp 3mg niacin.

Vitamin B5 (Pantothenic Acid):

Được biết đến như là vitamin chống stress, pantothenic acid đóng vai trò trong sản xuất hooc-môn adrenal và hình thành của kháng sinh, hỗ trợ hấp thụ vitamin, giúp chuyển hóa chất béo, carbohydrates và protein thành năng lượng. Pantothenic acid  cần thiết cho tất cả các tế bào trong cơ thể và được tập trung trong các cơ quan. Nó còn liên quan tới sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters).

Vitamin này còn là thành phần thiết yếu của Coenzyme A–một chất hóa học quan trọng trong cơ thể có liên quan tới nhiều chức năng của chuyển hóa năng lượng. Pantothenic acid giúp tăng cường sức bền, chống loại các dạng của bệnh thiếu máu. Nó cần thiết cho các chức năng bình thường của đường tiêu hóa và có thế hữu ích trong điều trị trầm cảm và lo lắng.

Thiếu hụt Pantothenic acid gây nên mệt mõi, đau đầu, ngứa ran ở tay, buồn nôn. Pantothenic acid còn cần thiết cho các chức năng bình thường của tuyết thượng thận (adrenal glands).

Các thực phẩm sau có chứa pantothenic acid: trái bơ, thịt bò, men bia, trúng, rau tươi, thận, các loại đậu, gan, tôm hùm, nấm, hạt, thịt heo, sữa ong chúa, cá biển.

Vitamin B6 (Pyridoxine):

Pyridoxine có liên quan nhiều đến các chức năng trong cơ thể hơn hầu hết các chất dinh dưỡng đơn nào khác. Nó ảnh hưởng tới cơ thể cả sức khỏe thế chất lẫn tinh thần.

Nếu cơ thể bị thủy thũng (sưng do nước) thì sử dụng pyridoxine sẽ có lợi. Nó còn cần thiết cho quá trình sản xuất hydrochlorid acid (HCl) và sự hấp thụ chất béo và protein.

Pyridoxine còn hỗ trợ duy tìn sự cân bằng giữa Natri và Kali, thúc đẩy sự hình thành các tế bào hồng cầu.

Pyridoxine cần thiết cho hệ thần kinh và các chức năng bình thường của não. Hơn nữa, nó còn cần cho sự tổng hợp các acid nucleic ADN và ARN – cần thiết cho sự tái sản xuất của tất cả tế bào và cho sự phát triển bình thường của tế bào. Nó kích hoạt nhiều enzyme và hỗ trợ trong sự hấp thụ của vitamin B12, trong chức năng hệ miễn dịch, và trong sản xuất kháng thể.

Vitamin B6  góp một vai trò trong đề kháng ung thư và hỗ trợ chống xơ cứng động mạch. Nó chống lại sự hình thành của một chất độc hóa học tên homocysteine – gây hại cho cơ tim và tập trung cholestorol xung quanh cơ tim.

Pyridoxine hoạt động như là chất lợi tiểu, giảm các triệu chứng của tiền kinh nguyệt. Puridoxine còn có lợi trong phòng tránh  calcium oxalate, trong chữa trị dị ứng, đau khớp, và hen suyễn.

Thiếu hụt vitamin B6 biểu hiện thiếu máu, động kinh, đau đầu, buồn nôn, loét lưỡi, tróc da, ói mữa. Các dấu hiệu khác của thiếu hụt vitamin B6 là mụn, biếng ăn, đau khớp, viếm kết mạc (conjunctivitis), trầm cảm, chống mặt, mệt mõi, vết thương không lành, vấn đề thính giác, đơ cứng, da mặt dầu, rụng tóc, mất trí, ngứa ran.

Hội chứng ống cổ tay cũng liên quan tới sự thiếu hụt vitamin B6 Tất cả nguồn thực phẩm đều cung cấp vitamin B6; tuy nhiên, các thực phẩm sau có lượng cao: men bia, cà rốt, gà, trứng, cá , thịt, đậu, rau bina, hạt hướng dương, quả óc chó (walnuts). Các nguồn khác bao gồm bơ, chuối, đậu, bông cải xanh, gạo nâu, cải bắp. Cỏ linh lăng cũng có chứa Vitamin B6.

Vitamin B12 (Methylcobalamin):

Vitamin B12 tham gia phản ứng tổng hợp thymidylate, một thành phần trong phân tử ADN, cung cấp nguyên liệu để tổng hợp ADN, góp phần vào quá trình phân chia tế bào và trưởng thành tế bào trong cơ thể.  B12 gây ảnh hưởng rõ rệt lên những dòng tế bào có sự phân bào nhiều như các tế bào máu, tế bào biểu mô (nhất là ở niêm mạc đường tiêu hóa).

Vitamin B tan trong nước, cần thiết cho quá trình trao đổi chất, hình thành tế bào hồng cầu và duy trì hệ thống thần kinh trung ương. Có trường hợp mắc bệnh thiếu máu ác tính không thể hấp thụ vitamin B12 từ đường ruột.

Những người ăn chay trường cung có thể hơi thiếu vitamin B12. Nếu để cơ thể thiếu vitamin B12 lâu dài có thể gây ra bệnh hiếu máu, tê ngứa chân tay, suy nhược thần kinh và rối loạn tiền đình. Mỗi người cần bổ sung khoảng 6 microgam vitamin B12 mỗi ngày.

- Thiếu vitamin B12 gây suy thoái chất myelin, một chất béo và là thành phần quan trọng của tế bào thần kinh, gây ra những triệu chứng thần kinh.

- Vitamin B12 do vi khuẩn tổng hợp từ thiên nhiên, sau đó mới đi vào chu trình thức ăn của các động vật, chủ yếu từ các động vật ăn cỏ. Ðộng vật và thực vật không tự tổng hợp được vitamin B12.

- Vitamin B12 trong thức ăn đều ở dạng phức hợp với protein. Trong chế biến, vitamin B12 khá bền vững với nhiệt độ, trừ khi trong môi trường kiềm và nhiệt độ quá 1000C. Thịt luộc ở 1700C trong 45 phút mất 30% B12. Sữa nấu sôi 2-5 phút mất 30% B12. Khi có sự hiện diện của vitamin C, B12 trở nên ít bền vững với nhiệt độ hơn và có thể bị phá hủy những lượng đáng kể vì 0,5g vitamin C.

- Sự hấp thu vitamin B12 cần có yếu tố nội tại (một protein do tế bào thành của niêm mạc dạ dày tiết ra) và enzyme phân hủy protein của tụy. Vitamin B12 được hấp thu bởi đoạn cuối ruột non.

- Nhiều người, thậm chí cả những người trong ngành y và dược thích chích B12 vì cho rằng đó là thuốc bổ máu, nhất là những khi thấy người mệt mỏi, da dẻ không được hồng hào. Có lẽ màu đỏ của thuốc cũng ảnh hưởng một phần, làm người ta tin tưởng ở tính chất “bổ máu” của nó.

Tuy nhiên, như đã trình bày, hầu như tất cả các trường hợp này đều không thiếu vitamin B12. Cho đến nay, chắc chắn việc dùng vitamin B12 cho những người như vậy sẽ không đem lại bất kỳ lợi ích nào. Trái lại, chỉ tạo thêm nguy cơ bị phản ứng bất lợi do thuốc và tốn kém vì nhiều loại thuốc chứa vitamin B12 có giá khá cao.

12: Vitamin B có nhiều trong trứng, thịt,  thịt gia cầm, đồ biển, sữa và các sản phẩm từ sữa.

Không có sản phẩm trong danh mục này.
Bản quyền của OpenCart
THUỐC BỔ - VITAMIN © 2017